
Video đi cùng câu chuyện
Video dài đi cùng bài viết sẽ được cập nhật khi đủ điều kiện phát hành.
1075: đánh vào nơi đối phương chuẩn bị chiến tranh
Theo tổng thuật của Bảo tàng Lịch sử quốc gia, các căn cứ Ung Châu, Khâm Châu và Liêm Châu là mục tiêu của cuộc tiến công do nhà Lý tổ chức. Đạo quân đường biển do Lý Thường Kiệt chỉ huy đánh Khâm Châu, Liêm Châu; lực lượng vùng biên tiến theo đường bộ. Hai hướng phối hợp tiến đến Ung Châu.
Sang năm 1076, Ung Châu thất thủ. Quân Đại Việt phá các cơ sở phục vụ chiến tranh rồi rút về. Một chiến thắng ngoài biên giới chưa kết thúc cuộc đối đầu với nhà Tống.
Nguồn: Bảo tàng Lịch sử quốc gia — Kỷ niệm 937 năm cuộc kháng chiến chống quân Tống lần thứ hai thắng lợi
1076: trở về để chuẩn bị trận tuyến mới
Lý Thường Kiệt tổ chức phòng thủ phía bắc Thăng Long. Dòng Như Nguyệt, thuộc sông Cầu, trở thành tuyến ngăn quân Tống tiến xuống kinh thành. Lực lượng tại biên giới và đường biển cũng tham gia đánh chặn.
Bài nghiên cứu của Dương Hồng Anh phân tích cách phối hợp lực lượng từ xa đến gần. Con sông là một phần của thế trận: cần có người giữ bến, lực lượng cơ động và thủy quân hỗ trợ. Phòng thủ ở đây bao gồm cả những cuộc tiến công.
Giữ được tuyến còn cần lương thực, thuyền bè, vũ khí và nơi đóng quân. Nghiên cứu về hậu cần nhấn mạnh công việc vận chuyển, tích trữ phía sau trận địa. Các lực lượng địa phương đồng thời gây khó khăn cho đường tiếp tế của quân Tống.
Nguồn: Bảo tàng Lịch sử quốc gia — Lý Thường Kiệt, người chỉ huy kiệt xuất của cuộc kháng chiến chống quân Tống lần thứ hai, Tạp chí Quốc phòng toàn dân — Nghệ thuật tổ chức, sử dụng lực lượng trong trận Như Nguyệt (năm 1077), Trần Đình Quang — Chiến thắng Như Nguyệt: Bài học về hậu cần
1077: cuộc giao chiến trên Như Nguyệt
Quân Tống do Quách Quỳ và Triệu Tiết chỉ huy tiến đến bờ bắc. Những đợt vượt sông gặp sự chống trả của quân Đại Việt. Ở hướng biển, Lý Kế Nguyên chặn thủy quân Tống, khiến lực lượng này không phối hợp được với quân bộ như dự tính.
Thế giằng co khiến quân Tống gặp thêm khó khăn về tiếp tế và bệnh tật. Quân Đại Việt chuyển sang phản công, vượt sông đánh các doanh trại ở bờ bắc. Phòng tuyến vừa bảo vệ đường vào Thăng Long, vừa làm chỗ dựa cho những đòn đánh sang phía đối phương.
Nguồn: Tạp chí Quốc phòng toàn dân — Nghệ thuật tổ chức, sử dụng lực lượng trong trận Như Nguyệt (năm 1077), Bảo tàng Lịch sử quốc gia — Kỷ niệm 937 năm cuộc kháng chiến chống quân Tống lần thứ hai thắng lợi, Trần Đình Quang — Chiến thắng Như Nguyệt: Bài học về hậu cần
Giảng hòa: kết thúc giao chiến bằng thương lượng
Lý Thường Kiệt chủ động đề nghị giảng hòa; hai bên đạt thỏa thuận để quân Tống rút. Kết quả nổi bật của cuộc kháng chiến là Đại Việt giữ được nền độc lập. Việc xử lý một số đất biên giới còn tiếp tục sau chiến tranh; quân Tống rút không có nghĩa mọi vấn đề lãnh thổ được giải quyết ngay năm 1077.
Vì thế, việc rút về sau chiến dịch Ung Châu cần được đặt cạnh sự chuẩn bị tại Như Nguyệt: làm suy yếu căn cứ đối phương, trở về giữ nước, rồi kết hợp giao chiến với thương lượng. Thành tựu này gắn với cả quân đội triều đình và lực lượng các địa phương.
Nguồn: Bảo tàng Lịch sử quốc gia — Lý Thường Kiệt, người chỉ huy kiệt xuất của cuộc kháng chiến chống quân Tống lần thứ hai, Tạp chí Quốc phòng toàn dân — Nghệ thuật tổ chức, sử dụng lực lượng trong trận Như Nguyệt (năm 1077), Lan Châu — Hiền thần Lý Thường Kiệt
Dòng thời gian 1075–1077
- 1075 — Quân Đại Việt tiến công các căn cứ Tống theo hướng bộ và biển.
- 1076 — Hạ Ung Châu, rút về và chuẩn bị phòng thủ.
- 1077 — Giao chiến trên phòng tuyến Như Nguyệt; sau đó giảng hòa, quân Tống rút.
Nguồn: Bảo tàng Lịch sử quốc gia — Kỷ niệm 937 năm cuộc kháng chiến chống quân Tống lần thứ hai thắng lợi, Bảo tàng Lịch sử quốc gia — Lý Thường Kiệt, người chỉ huy kiệt xuất của cuộc kháng chiến chống quân Tống lần thứ hai
Sơ đồ giản lược của chiến dịch
Nguồn: Bảo tàng Lịch sử quốc gia — Kỷ niệm 937 năm cuộc kháng chiến chống quân Tống lần thứ hai thắng lợi, Tạp chí Quốc phòng toàn dân — Nghệ thuật tổ chức, sử dụng lực lượng trong trận Như Nguyệt (năm 1077)
Một tấm bia cho thấy vai trò của lực lượng vùng biên
Hồ sơ bia Bảo Ninh Sùng Phúc trên trang Cục Di sản văn hóa đăng bản dịch kể công người cha của Hà Hưng Tông trong việc đánh sang phía bắc, vây thành Ung. Tư liệu này bổ sung một góc nhìn về sự tham gia của dòng họ giữ châu Vị Long.
Bản đăng ghép năm Ất Mão với chú thích 1074, không khớp mốc chiến dịch 1075 trong các tổng thuật. Bài không lấy chỗ ghi năm ấy làm căn cứ định ngày. Văn bia có tính tưởng niệm, cũng không phải bản tường thuật đầy đủ cuộc chiến.
Nam quốc sơn hà: giữ rõ điều chưa được xác định
Nghiên cứu của Lê Văn Quán trên Tạp chí Hán Nôm bàn về truyền khẩu, các dị bản và việc không ghi tên tác giả. Vì vậy, bài này không ghi chắc Lý Thường Kiệt là người sáng tác Nam quốc sơn hà, cũng không dựng cảnh ông đọc thơ như một sự kiện đã được chứng thực.
Những chi tiết kể lại khác nhau về bài thơ cần được tách khỏi diễn biến quân sự. Bài cũng không xác quyết vị trí từng đơn vị, giờ tập kích hay quân số khi các nguồn chưa đủ thống nhất.
Nguồn: Lê Văn Quán — Bài thơ Nam quốc sơn hà là bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên của nước Việt Nam ta
Nguồn đối chiếu ngày 02/11/2026
- Bảo tàng Lịch sử quốc gia — Kỷ niệm 937 năm cuộc kháng chiến chống quân Tống lần thứ hai thắng lợiĐối chiếu 02/11/2026
Nguyễn Thúy tổng hợp, 2014. Dùng khung chiến dịch; không dùng ngày xuất quân, quân số và các số liệu tổn thất có vấn đề.
- Bảo tàng Lịch sử quốc gia — Lý Thường Kiệt, người chỉ huy kiệt xuất của cuộc kháng chiến chống quân Tống lần thứ haiĐối chiếu 02/11/2026
Lê Thị Huệ tổng hợp, 2014. Không sử dụng chi tiết Lý Thái Tổ nhận con nuôi năm 1041 hoặc gán chắc tác giả bài thơ.
- Tạp chí Quốc phòng toàn dân — Nghệ thuật tổ chức, sử dụng lực lượng trong trận Như Nguyệt (năm 1077)Đối chiếu 02/11/2026
Dương Hồng Anh, 2017. Dùng phân tích phối hợp lực lượng; không sao số quân, thương vong hoặc ngày tháng mâu thuẫn trong bài.
- Cục Di sản văn hóa — Bia chùa Bảo Ninh Sùng PhúcĐối chiếu 02/11/2026
Đọc hồ sơ và bản dịch được đăng, chưa đối chiếu trực tiếp bản dập. Tách lời văn bia khỏi thuyết minh hiện đại.
- Lê Văn Quán — Bài thơ Nam quốc sơn hà là bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên của nước Việt Nam taĐối chiếu 02/11/2026
Tạp chí Hán Nôm 1(74), 2006, tr. 3–8. Dùng phần bàn dị bản và tác giả chưa xác định; không coi mọi giả thuyết là kết luận.
- Trần Đình Quang — Chiến thắng Như Nguyệt: Bài học về hậu cầnĐối chiếu 02/11/2026
Báo Quân đội nhân dân, chuyên trang Hậu cần, 2022. Dùng phần chuẩn bị, tiếp tế và Lý Kế Nguyên; không sử dụng quân số, ngày cụ thể hoặc diễn giải đầu hàng vô điều kiện.
- Lan Châu — Hiền thần Lý Thường KiệtĐối chiếu 02/11/2026
Bảo tàng Lịch sử quốc gia đăng lại Hà Nội Mới, 2010. Đối chiếu việc quân Tống rút và vấn đề biên giới tiếp tục sau chiến tranh; không sử dụng thơ như bản ghi chiến trường.
Sơ đồ do kênh biên soạn là trình tự giản lược, không phải bản đồ chiến trường. Hình lịch sử, nếu có, là minh họa tái dựng; không xác nhận diện mạo hoặc vị trí chính xác. Mi dẫn chuyện ở hiện tại; giọng Mỹ Duyên được tổng hợp. Cách làm nội dung của kênh.